Hiển thị các bài đăng có nhãn book review. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn book review. Hiển thị tất cả bài đăng

16 tháng 5, 2015

Lời dạy của Rumi

Một người đồng nghiệp thân mật được tôi tặng cho quyển sách vừa dịch xong, sách khổ ngang mới còn thơm mùi giấy in, đọc qua phần giới thiệu được dịch từ lời của nhà biên soạn Andrew Harvey, người ấy nói, "câu văn sao mà lủng củng, em đã cho sinh non một đứa con rồi, nếu là chị, chị sẽ đi học một khóa biên dịch, dịch thuật."
Câu ấy như thế này: "Trong thời đại thách thức này, khi mà mọi thứ phụ thuộc vào khả năng tình thương được duy trì, vào lòng tin mù quáng và một nửa điên khùng, vào khả năng đối diện liên tiếp với hạnh phúc và thỉnh thoảng là nguy hiểm chết người, tác phẩm của Rumi sẽ cho ta lời dẫn đường sáng rõ và sự động viên tinh thần trước những chịu đựng thậm chí còn sâu sắc hơn."
Tất nhiên, tôi chỉ im lặng, sự giải thích hay phân trần trong trường hợp này là vô ích. Luôn có những người thân với ta trên một phương diện nào đó của cuộc sống, nhưng họ không sao hiểu được những điều ta thích, ta muốn và những việc ta đang làm, và thật sự, sách là thứ có nhiều tầng nấc, nhiều chủng loại nhất, thích hay không thích, hiểu hay không hiểu, chẳng có nghĩa lý gì với việc bắt họ hiểu hay thích một quyển sách nhất định nào cả, có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng. 

Vả lại, Rumi có bài thơ như thế này:
"Nhận thức chân chính có hai cánh, còn quan điểm chỉ có một:
Quan điểm thì lỗ chỗ sai lầm và tầm bay rất ngắn.
Con chim một cánh rơi dập mặt;
Cố gượng dậy cũng chỉ được vào ba bước.
Con chim của quan điểm cứ té lên té xuống,
Bởi nó chỉ dùng một cánh để bay về nhà.
Khi con chim này đánh buông cái quan điểm
Nhận thức sẽ cho nó thấy hình hài của nó
Con chim một cánh được ban phước thành hai
Sải rộng cánh bay, bước dài mạnh mẽ
Hết té dập mặt, chẳng còn ốm đau.
Hành trình bắt đầu, nó bay bằng hai cánh như Gabriel,
Không quan điểm, không do dự hay bàn cãi.
Nếu cả thế giới nói với nó “Ngươi đang bay trở về Nhà,
Ngươi đang trên đường chính nghĩa”
Lời ca ngợi chẳng tăng tiến nhiệt tình hăng hái,
Vì tâm hồn đơn độc đã không còn vương víu thế gian.
Nếu ai đó nói, “Ngươi lạc lối!
Đừng tưởng ngươi là núi, ngươi chỉ là cọng rơm,”
Nó chẳng hoài nghi bởi lời chê bai tầm thường
Cũng chẳng ưu phiền nếu mọi người bỏ rơi."

Tuy nhiên, thật tình cờ, câu văn được người ấy trích dẫn quả thật thích hợp để tôi có thể bắt đầu lời giới thiệu cho quyển sách này.

Đúng vậy, thời đại này quả đúng là một thời đại "thách thức", có thể kể tên một vài hiểm họa lớn nhất do con người gây ra hiện nay là sự hủy hoại môi sinh, lạm dụng công nghệ trong nông nghiệp và thực phẩm gây ra hàng loạt chủng loại ung thư mới, chiến tranh và chủ nghĩa bá quyền, hình như tất cả đều xuất phát từ sự độc ác và tham lam của con người. Vậy thì làm gì có cách nào khác, mà nói đúng như Andrew Harvey là "mọi thứ phụ thuộc vào khả năng tình thương được duy trì".

Trên con đường khám phá mục đích cuối cùng của cuộc sống này, cũng đôi lần ta thấp thoáng nhìn thấy nó, ta hạnh phúc vì có một lẽ sống để đi, nhưng rồi ta lại bị cái gọi là "thực tại" - được quy định bởi xu thế xã hội, mà xu thế rõ nhất hiện nay là chạy theo vật chất và lợi ích trước mắt - vùi dập ta trong đói nghèo và những ham muốn "xôi thịt". Vậy thì chỉ còn lại niềm tin, niềm tin vào tình thương yêu, vào việc buông bỏ bản ngã, vào Chúa trời - tất nhiên, Chúa trời không phải ông già ngồi trên cao đang phe phẩy cây gậy thần, mà là quy luật vũ trụ về sự vận động nhân quả - mới có thể cho người ta sức mạnh để tiếp tục giữ cho mình cội rễ tâm linh. Một niềm tin như thế, trước bao vùi dập của đồng tiền và những lợi ích nhỏ nhen, nó đi ngược chiều với đám đông ích kỷ, do đó, hẳn nó cần phải "mù quáng và điên khùng", mù quáng và điên khùng yêu thương, mù quáng và điên khùng cho đi mà không cần nhận lại. 

Mặt khác, đi đúng đường cho người ta hạnh phúc chân chính, bằng an tâm hồn, trí tuệ rộng mở, cởi bỏ tất cả tị hiềm cá nhân và toan tính vật chất, cả những ganh ghét đố kị và sự thất vọng trần tục. Sớm hay muộn, với khổ đau cùng với hạnh phúc xen lẫn, cuối cùng để đi đến "bản lai diện mục", sẽ có những khoảnh khắc đấu tranh tận cùng, đau khổ đến tận cùng để rồi trút đi những hằn tích cuối cùng của tham lam ích kỷ, của độc ác thú tính, của cái tôi tầm thường, nói cách khác, có một sự hủy diệt và thay mới hoàn toàn về mặt tâm linh, con người bước sang một tầm cao mới. Tôi nghĩ, đây chính là lí do tại sao Andrew nói người ta có lúc phải đối diện với "nguy hiểm chết người" trên con đường ấy.

"Lời dạy của Rumi" sẽ là tấm bản đồ chỉ trước cho ta những vui sướng và khổ đau phía trước, những điều đang chờ đợi ta trong quá trình tiến hóa của chính bản thân mình. Ông đưa ra những lý giải triết học thông qua những bài thơ mộc mạc, những câu chuyện ngụ ngôn hài hước, đôi lúc ta như nghe được nhạc điệu tung hê thần thánh trong lời thơ hay câu chuyện ấy. Ông vui vẻ như những vị Phật.

Một điều thú vị khác về quyển sách này, Rumi sử dụng rất nhiều những điển tích Hồi giáo, bạn đọc sẽ được mở mang trước những khái niệm, tên gọi - vốn rất mập mờ với nền văn hóa Á Đông và Phật giáo - được chú thích chú giải cặn kẽ, làm nền tảng rất tốt những tìm tòi sau này có liên quan. Mình có kỷ niệm thú vị là sau khi dịch xong quyển sách này, tình cờ  xem phim Cuộc chiến Pharaoh - Exodus chiếu ở rạp hồi tháng 12/2014, thì hiểu vanh vách toàn bộ nội dung phim và vô cùng thích thú khi thấy các sự kiện điển tích được tái dựng khá chính xác qua màn ảnh và các kỹ xảo hoành tráng. 

Mong muốn trước hết của mình khi người đọc tiếp cận với tác phẩm này - đến từ "con người huyền hoặc, một trong những nhân vật xuất chúng nhất mà dòng Sufi từng sản sinh được" (1) - đó là người đọc đừng xem đây là một tác phẩm tôn giáo, vì Chúa được nhắc đến, luôn luôn và chắc chắn không phải là một ông già ngồi trên cao đang phe phẩy cây gậy thần nắm quyền sinh sát, mà là tình thương trong một khái niệm rộng lớn, là quy luật nhân quả của vũ trụ, là chân ngã và con người cuối cùng chúng ta phải vươn tới trên hành trình này, Chúa ở trong chính chúng ta.

Cuối cùng, có thể mua vồ vập nhưng đừng đọc vồ vập và hiểu vồ vập, quyền sách này dành cho tất cả, nhưng không phải ai cũng hiểu ngay từ lần đọc đầu tiên.

(1) - như anh Nhị Linh nói ở đây


24 tháng 2, 2015

Đọc Bảo tàng ngây thơ của Orhan Pamuk



Tôi không nhớ rõ mình đã mua Bảo tàng ngây thơ từ khi nào, có lẽ vào khoảng tháng 11 hoặc tháng 12, thời điểm này tôi khá rủng rỉnh tiền bạc, trong một lần ghé Nhã Nam và bắt gặp cái tựa sách đã được nghe nói đến nhiều từ các bạn văn của tôi (dù từ này không chính xác lắm). Rồi cứ thế xen giữa những ngày tháng dạy học miệt mài của mình, tôi dành ít phút ngắn ngủi trước khi ngủ vào ban đêm hoặc trước khi nghỉ trưa đọc vài trang (thực ra xen giữa giai đoạn này, tôi vẫn đôi phần đọc xen vào những cuốn khác như Kẻ ích kỷ lãng mạn, một ít Trốn chạy, một ít Thực dưỡng Osawa…).  Cho đến trước khi về Tết tôi vẫn chưa đọc Bảo tàng ngây thơ được đáng kể là bao.


Khoảng 1 -2 ngày đầu của Tết, tức là 28 và 29 Tết, tôi đọc rất nhanh cuốn Nhà giả kim (có lẽ tôi sẽ viết về cuốn này sau vậy). Rồi tôi trở lại với Bảo tàng thơ ngây suốt từ hôm 30 Tết cho đến hôm nay là mùng 6 Tết. (Tất nhiên, giữa quãng này vẫn có những lúc tôi đi chơi với gia đình, bạn bè, những lúc tôi ngồi dịch sách, xem phim, phụ ba mẹ những chuyện nấu nướng, cúng kiếng và dọn dẹp mấy ngày Tết, những lúc tôi nhớ người yêu, chat với người yêu, đi chơi với người yêu hay tôi ngủ nướng, tôi tập thể dục, tôi bấn loạn vì chuyện học hành và tương lai) Cuối cùng, vào lúc 11h30 tối mùng 6 Tết tôi đã đọc xong Bảo tàng ngây thơ. Tôi thấy như thể đó là một kỳ tích vậy, có một sự lê thê, dày đặc, mỏi mệt, nó như thể một cuộc tra tấn thần kinh, lặp đi lặp lại, sự đấu tranh giữa việc mong muốn rốt cuộc tại sao cuốn tiểu thuyết này lại được yêu mến đến vậy với việc phải dính mắt vào từng con chữ, từng tình tiết rất miên man, kỹ lưỡng, chi li đến phát khùng lên được.

Với tư cách là một người thích viết lách, tôi đọc một quyển fiction với hai mục đích chính, một là tư tưởng mới của nhà văn là gì (Vì theo tôi, rốt cuộc đằng sau mỗi tiểu thuyết, nếu không có tính giải trí gì đặc biệt có thể gây cười hay thỏa mãn với thời cuộc bằng hiện thực chung mà chưa một ai cất lên tiếng nói mô tả, thì bắt buộc nó phải có một tư tưởng mới, một góc nhìn mới) và hai là cách mà nhà văn kể chuyện hay cách mà nhà văn đó sắp xếp các tình tiết và khai thác các tình tiết bằng thủ pháp nào.

Đọc khoảng 3/5 cuốn truyện, tôi thấy ngao ngán và mệt mỏi vô độ. Nói về tư duy chính, tôi chưa thấy điều gì mới, nó chẳng khác nào một thứ ngôn tình (chỉ có điều là ngôn tình châu Âu), sến rện, sướt mướt, lâm li bi đát, rồ dại như một kẻ si tình mới yêu lần đầu và xem người mình yêu là thánh nữ có một trên đời. Về cách kể chuyện, nó không khác chi là đi vào miêu tả nhỏ nhặt từng li từng tí. Nó là sự ken đặc của biện pháp miêu tả, miêu tả con người, đồ vật, cảm xúc. Nếu ai đó có đủ ngôn từ và đủ sự kiên nhẫn và bền bỉ, có lẽ đều có thể viết được như thế. Nó giống kiểu ta ăn một bữa tiệc cao lương mỹ vị nhưng thừa mứa và sắp nổ tung đến nơi vì ăn quá nhiều.

Đọc 2/5 còn lại, tôi nhận ra rằng, tất cả những mệt mỏi và quằn quại đã qua giúp nhà văn đẩy người đọc vào cùng một guồng cảm xúc với nhân vật chính, hiểu rõ tâm tư tình cảm và tất cả những khao khát, nỗi đau và hạnh phúc mà nhân vật chính phải trải qua. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện tình giữa chàng Majnun và nàng  Layla (1)  giữa thời hiện đại, cho người ta được phép tin một lẫn nữa vào cái gọi là tình yêu, vào độ dài, sự bền bỉ và sức chịu đựng của nó – điều mà ngày nay người ta thường dễ dàng tráo đổi với những an toàn về mặt vật chất, tiếng tăm, lề thói hay với những cảnh báo xã hội về mặt thời gian như kiểu: già rồi, ế rồi, thôi thì người đó cũng tốt mà, dễ gì gặp được người như thế, v.v…

Điều thứ hai, về tư duy của truyện, chúng ta hãy đặt câu hỏi rằng, hạnh phúc là gì? Có phải là ở việc đạt được các mục tiêu của đời mình, có một gia đình toàn mỹ, thu nhập tốt, nhà lầu xe hơi, những đứa con đẹp và thông minh, trở nên nổi danh hay có nhiều tiền là hạnh phúc? Việc bạn trả lời cho câu hỏi này là “Có” cũng chẳng có gì sai. Nhưng ở một khía cạnh khác, một tư duy khác mà tôi đồng ý với nhân vật chính của truyện, hạnh phúc nó là ở việc ta dám sống với tất cả những cảm xúc của trái tim mình, hết mình và trung thành với nó đến cuối cuộc đời, dẫu cho trong từng giai đoạn, nó có thể ở dưới dạng chờ đợi – thấp thỏm – đau khổ tột cùng – và cả thực sự hạnh phúc, mãn nguyện, chơi vơi. Hoặc nói một cách khác, thì hạnh phúc chỉ có thể cảm nhận đầy đủ nhất nếu nó được trải qua cái khổ, đi ra từ trong cái khổ, không thể khác được. Sự thiền và nhẫn nại, quan sát bản thân, quan sát người mình yêu và tất cả bối cảnh xảy ra xung quanh, vượt qua tất cả những khó chịu đó, (thật sự cái quá trình đau khổ này được miêu tả trong truyện, nó không khác gì so với một quá trình thiền được phóng đại lên, và như vậy, cả đời sống này – với một người thành công mà nói – thì nó chẳng khác gì một cuộc thiền lớn kéo dài 70 năm) khiến cho hạnh phúc được đẩy lên đỉnh điểm. Và cái ghê gớm của truyện này là ở chỗ, dù kết thúc ở bi kịch như Romeo và Juliet hay Majnun và Layla, nhưng với việc sống hết mình cho tình yêu của mình, cuối truyện, nhân vật chính đã nói (và tôi tin tưởng sâu sắc như thế) rằng:
“tôi đã sống một cuộc đời hạnh phúc!”

Điều thứ ba, có lẽ ít người sẽ có cảm nhận giống tôi như thế này sau khi đọc xong truyện, với vấn đề tình dục trước hôn nhân, người trẻ phải cân nhắc. Tất nhiên, là một người trẻ (tự cho mình) có tư duy cấp tiến, hiện đại và ảnh hưởng Âu Mỹ, tôi không có ý muốn nâng quan điểm về vấn đề trinh tiết (để rồi xã hội và chính người phụ nữ phải làm khổ người phụ nữ vì cái tư tưởng cổ hũ ấy), mà ý tôi rằng, sự cẩn trọng trong tình dục cho phép ta tránh được sự nhầm lẫn giữa tình yêu và tình dục, giúp ta cân nhắc được sự hấp dẫn và quyến rũ này là do ta yêu người đó trong toàn bộ, tâm hồn – tính cách – phẩm chất – quá khứ tương lai – vóc dáng hình hài, hay là ta đang bị cái bản chất dục của giống nòi chi phối. Tình dục chỉ nên là biểu hiện cuối cùng của một tình yêu chín chắn, hiểu rõ và giao hòa sâu sắc giữa đôi bên về mặt tình cảm, tâm hồn. Sự dễ dãi trong trong tình dục làm mất đi sự nhạy bén của trái tim và sự tinh tế của bộ não trong việc phát hiện ra người bạn đời thực sự của mình.

Tuy nhiên, về điều thứ ba, bạn đọc hãy cẩn thận, ở một phương diện khác, tình dục cũng là chỉ báo thú vị như thế này: khi hai người (có lẽ) yêu nhau, việc có thể nghiệm về tình dục giúp người ta có thể dễ dàng loại bỏ nó ra khỏi sự nhầm lẫn của mình trong sự quyến luyến - hấp dẫn và nhớ nhung của tình yêu, kiểu như là sau khi đã trải qua việc đó, hai người còn ở lại với nhau hay không là do chính bởi tình yêu của họ. Đọc hết truyện và so sánh giữa 3 trường hợp  Kemal - Fusun, Kemal - Sibel và Mehmet - Nurcihan, bạn sẽ hiểu.

Sau truyện này và sức nặng của nó, có lẽ tôi phải cho phép mình nghĩ giữa quãng và xen vào những cuốn khác trước khi đọc các tác phẩm vốn đã rất nổi tiếng của Orhan Pamuk như: Tên tôi là Đỏ hay Những màu khác, v.v…
-----------------------------------------------
Layla và Majnun: Qays ibn al-Mulawwah là nhà thơ người Bedouin yêu Layla ibn bint Mahdi Sa'd là người cùng bộ lạc. Chàng trai làm thơ ca ngợi tình yêu dành cho Layla. Sau đó chàng xin phép bố của Layla để cưới cô làm vợ thì bị từ chối vì theo phong tục của bộ lạc, điều này sẽ làm chia rẽ bộ tộc. Sau đó Layla được gả cho một người đàn ông khác. Khi nghe tin Layla sắp lấy chồng thì Qays liền bỏ nhà đi vào sa mạc, người thân và gia đình hết sức thuyết phục chàng nhưng không thể, họ đành để đồ ăn cho chàng giữa sa mạc. Đôi khi họ nhìn thấy chàng đang đọc thơ về Layla cho chính mình hoặc dùng gậy viết thơ lên cát. Còn Layla theo chồng về Iraq, sau một thời gian đã đổ bệnh và chết. Sau đó một thời gian người ta cũng tìm thấy xác của Qays nằm trên mộ của một người phụ nữ không rõ danh tính. Chàng đã viết ba dòng thơ cuối cùng lên phiến đá trên mộ. Phần lớn thơ của Qays ibn al-Mulawwah được viết trước ngày chàng trở thành người điên. Người đời hiểu rằng Qays trở thành điên là vì tình, bởi thế họ gọi Qays là “Chàng điên Layla” hoặc đơn giản là Majnun (nghĩa là “chàng điên”).

Tranh: Sacrifice of Isaac - Caravaggio, 1598, được nhắc đến trong truyện, và do tính chất đau khổ được thể hiện trong bức tranh mà tôi thấy phù hợp để minh họa ở đây.

30 tháng 12, 2014

Đọc Luận về yêu của Alain de Botton

Đã từng yêu như sét đánh? Đã từng cuồng say trong sự nhìn người mình yêu như một thiên thần? Rồi đi qua hết những cung bậc, một ngày khi hiểu rõ tất cả… khi mọi thứ trở nên quen thuộc đến lặp lại nhàm chán… rồi người thứ ba xuất hiện. Giá có hai người thứ ba xuất hiện cùng lúc thì tốt. Nhưng thường thì, sẽ có một người đóng vai kẻ phản bội, một người tự hỏi, sao số tôi khổ thế này, sao chuyện này lại rơi vào tôi. Tôi không còn muốn sống nếu không có anh/ em trên đời nữa, cuộc đời sao nghiệt ngã truân chuyên quá.
Những ảo ảnh của ngày hôm qua như một con lạc đà lê bước qua những ốc đảo xinh đẹp trên sa mạc của quá khứ, tiếc nuối và không thể tin vào thực tại, đến nỗi muốn tự tử đi được. Rồi thời gian qua đi, mọi chuyện nhạt nhòa dần, con lạc đà cũng dần trút được những hoài niệm, sau khi mệt lử, nó cũng bắt kịp với thực tại. Ta lại đứng lên khỏe khoắn, và yêu sao cái nắng chủ nhật tự do, yêu sao công việc mỗi ngày và gặp những con người mới. Rồi những tình yêu mới lại bắt đầu.
Vậy điều gì dẫn tình yêu đến một hôn nhân, và tình yêu nào sẽ chết. Tại sao người ta hay nói, yêu cho lắm vào, yêu đến đê mê đắm đuối rồi chia tay đau khổ, và có những tình yêu chín chắn lại dẫn đến hôn nhân. Trong Luận về yêu của Alain de Botton có một đoạn như thế này:
“Triết lý của tình yêu chín chắn … chất đầy sự ôn hòa, chống lại sự lý tưởng hóa, hoàn toàn không có lòng ghen tuông, khổ dâm hay ám ảnh, nó là một hình thức của TÌNH BẠN với một chiều kích tính dục, DỄ CHỊU, THANH THẢN, VÀ ĐƯỢC HỒI ĐÁP. Tình yêu non nớt, trái lại, là câu chuyện về sự bấp bênh hỗn loạn giữa hai bờ LÝ TƯỞNG HÓA và NỖI THẤT VỌNG, một trạng thái chòng chành nơi cảm giác đê mê và hạnh phúc pha trộn với ấn tượng về chết đuối và buồn nôn thốc tháo. Đỉnh điểm của tình yêu non nớt nằm ở cái chết, theo cách biểu tượng hay hiện thực. Cực điểm của tình yêu chín chắn là hôn nhân, và nỗ lực trách cách chết bằng lệ thường. Tình yêu non nớt không chấp nhận thỏa hiệp…”
Và như thế, đừng tưởng những tình yêu nồng cháy nhưng dang dở là điều gì tiếc nuối, vì kết thúc là điều hầu như chắc chắn ở những tình yêu kiểu như vậy. Và không phải sự dịu dàng, ấm áp, chừng mực, thực tế, được xây dựng từ những tình bạn chân thành, lâu năm, một sự thấu hiểu, gắn bó trong yên ổn là nền tảng để đi đến một hôn nhân nồng nàn sao?
Như đã từng nói, để sáng suốt hơn trong tình yêu, hiểu rõ hơn về tình yêu, phải đọc triết lý về tình yêu. LUẬN VỀ YÊU của Alain de Botton là một trong số đó. Quyển sách đã đi qua tất cả những cung bậc ấy, gây ra một sự đồng cảm sâu sắc trong tôi, nhất là đoạn phản bội và tan vỡ, thời kỳ quyết tâm không yêu ai nữa rồi hồi phục và đồng thời cũng khai sáng phần nào lí do của tất cả những cái gọi là “tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi? Tại sao thực tại lại đau lòng đến thế?”
Dù gì thì, ta cũng sẽ lại yêu thôi.

30 tháng 10, 2014

Tôi và "Phía Nam biên giới - Phía Tây mặt trời"

Đôi lúc cuộc sống đẩy bạn đến cái gì đó như là địa ngục, như là không còn thở nổi nữa, bạn thấy xung quanh ngột ngạt và mình không thuộc về thế giới đó, bạn thấy cáu bẳn với mọi thứ và bạn không thấy sự tốt đẹp ở bất cứ đâu cả. Rồi cũng chính từ địa ngục ấy, bạn bắt đầu thấy những tia sáng le lói, bắt đầu bấu víu lấy nó, cảm thấy bình yên với nó, và tiếp tục vui sống. Có lẽ cuộc sống cần phải như thế, bạn cần phải như thế, đi đến hủy diệt hoàn toàn, rồi trồi lên mạnh mẽ và tươi mới.

Tôi không định nhập chung những kể lể về đời tư của mình với những cảm nhận còn nóng hổi về truyện tôi vừa đọc xong của Haruki Murakami, nhưng điều này là dường như không thể tránh khỏi. Hai dòng cảm xúc ấy diễn ra cùng lúc, và tôi không đủ năng lượng, ngôn từ và trí tuệ để tách chúng ra, và diễn tả từng thứ một một cách trọn vẹn.

Bạn có hiểu cảm giác không thể sống nổi ở thế giới này nữa nghĩa là thế nào không? Nghĩa là bạn thấy không có sự lựa chọn nào cả, bạn không nhìn ra con đường nào là phù hợp với mình. Bạn thấy mình không thể bình thường như tất cả những người ở ngoài kia. Bạn cho rằng mình được giáo dục bởi một nền giáo dục bị chính trị hóa, bệ rạc và tuyệt nhiên vô cảm với những cảm xúc tiềm ẩn và khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, bạn ghét ngành nghề mà kinh tế thị trường nửa vời sắp đặt cho bạn. Rồi bạn dũng cảm bước sang một nghề nghiệp mới. Nhưng làm chưa được bao lâu, bạn vẫn thấy chán. Bạn chỉ ước mình có thể đọc sách nhiều như bạn muốn, ước có thể viết và sáng tạo bất cứ những gì mình muốn, bạn không bị những dai dẳng, ngày này qua ngày khác của bất cứ công việc nào mang tính trách nhiệm đè nặng lên bạn mỗi khi mặt trời sáng bảnh cả mắt.

Mấy ngày nay tôi bị như vậy đấy. Tôi thấy quá nặng nề với việc dạy liên tục 6 buổi một tuần và phải chịu trách nhiệm với các bạn học sinh khi ngày thi của các bạn ấy đến gần. Tôi chỉ ước ao mình có thể viết, đọc và vẽ. Nhưng rồi, từ chính việc gieo mình vào bài giảng, lắng nghe những thanh âm trong trẻo, lanh lảnh, chắc chắn và đầy tự tin của chính mình, tôi lại tìm được niềm vui và cố kiết đưa mình vào sự nhẫn nại, bền bỉ, và tôi bớt sợ hãi hơn mỗi khi mặt trời mọc. Và tôi tự hứa hẹn với mình ở việc tự học thêm, tìm tòi và tiếp tục vươn mình đến sự master và vẻ đẹp của ngôn ngữ. Chính là như vậy, chỉ có sự phát triển của bản thân mới khiến tôi có động lực đi tới trước, ít nhất là hồi giờ vẫn như vậy.

Một vài ngày qua, tôi bị rơi vào ảo tưởng quá mức về tình cảm mà một số bạn khác giới dành cho tôi. Hi vọng và ảo tưởng là những thứ tuyệt đối nguy hiểm chết người đưa người ta đến trước hết là sự mất thăng bằng, sau đó là thất vọng. Tôi bấn loạn muốn được yêu thương và quan tâm như một con ốc sên nhỏ bé cần được che chở. Cả thế kỷ tôi không được ai rủ rê hẹn hò, tôi mua nhiều quần áo đẹp chỉ để chờ ai đó đến với mình. Rồi khi có ai đó đến với tôi với những trùng hợp bất ngờ, và những dự định rõ ràng và ý muốn lâu dài, tôi lại thấy hoàn toàn chưa sẵn sàng, tôi sợ. Tôi sợ việc một người biết lựa thời điểm để bước vào cuộc đời tôi và soán lấy vị trí của người phù hợp nhất, người thực sự khiến tôi trở thành đầy đặn và viên mãn. Tôi sợ chính tôi, cũng bởi sự xuất hiện đúng thời điểm, mà đến một ngày kia, ở giữa cuộc sống hôn nhân, họ nhận ra một cô gái khác mới là nửa vòng tròn còn lại của họ, rồi họ ngoại tình và đau khổ. Và mặt khác, những phần trái tim khác nhau liên tục nhấm nhẳn tranh giành tình cảm tôi dành cho chúng, tôi thậm chí sợ một người "nhanh chân" chiếm lấy vị trí của một người "điềm tĩnh" trong khi rất có thể cái người "điềm tĩnh" mới thực sự là nửa kia của tôi. Mọi thứ rối loạn, mơ hồ và không ngừng khuấy động tâm trí. Cuối cùng, tôi chọn mặc kệ bọn họ.

Tôi thực sự cảm thấy bất cần và mặc kệ bọn họ, tôi không thèm vướng víu mình vào những khổ đau tầm thường của con người, hoặc nếu có, thì nó sẽ tự nhiên xảy ra như một phần số phận của tôi, chấp nhận nó, điều này đăc biệt xảy ra khi tôi nghe ban nhạc MONO chơi post-rock, đó là thứ âm nhạc bi tráng và có tính kỳ vĩ, nó kể chuyện về con người như kể về Adam và Eva, nó gợi lên những niềm xưa cũ nhưng trong màu sắc huy hoàng và cao vợi như một tôn giáo, như thánh thần, nó đẩy con người vượt ra khỏi những giới hạn tầm thường, nó dẫn qua những hủy diệt cho đến tái sinh và bất diệt. MONO khiến tôi không còn quá bận lòng với những trăn trở tầm thường, khiến tôi muốn sống điềm tĩnh và kiên nhẫn hơn nữa, rèn giũa phần bên trong mình một cách lặng lẽ nhưng mạnh mẽ.

Trở lại với "Phía nam biên giới - Phía Tây mặt trời", đọc hơn một nửa truyện tôi đã phát ngấy với những động tĩnh tình dục dấy lên trong chính con người mình, tôi chực chờ muốn buông lời nhận xét về tính giải trí rẻ tiền, mô tuýp cũ rích và cấu trúc cùng với ngôn ngữ bình bình không còn có vẻ trau chuốt mỹ miều và sắp đặt công phu như truyện "Kafka bên bờ biển". Nhưng rồi tôi đã không dừng lại được việc đọc nữa, liên tục, và cũng không ngăn được mình khỏi việc nghe bản "Star-crossed lovers" (nghĩa là những tình nhân sinh ra dưới một ngôi sao xấu) của Duke Ellington, bản Pretend và bản South of the Border của Nat Ting Cole nữa.

Theo tôi, Murakami tạo nên sự khác biệt trong tác phẩm của mình bởi hai việc. Một là miêu tả cực kỳ chính xác và tỉ mỉ tâm trạng, cách nhìn và cảm nhận mọi thứ của nhân vật, nó thôi thúc những người có một tý ưa thích với việc viết lách ước ao cũng có thể ngồi xuống miêu tả những đoạn tâm trạng giống như vậy về những cuộc đời xung quanh mình, về chính bản thân mình.Tôi đặc biệt thích cách ông miêu tả tâm trạng và cảm xúc của một người ngoại tình vụng trộm, đấu tranh chính mình giữa lề thói quy chuẩn đạo đức của xã hội - trách nhiệm với gia đình con cái với tình yêu cả đời chỉ có một, một và chỉ một mà thôi, cái người duy nhất làm nên cái vòng tròn đầy đặn, người có sức nặng quyến rũ và cuốn hút không gì sánh được. Tôi tin là tất cả những ai từng ngoại tình đều tìm thấy mình trong những đoạn viết đó, thậm chí tôi đoán hẳn là Murakami cũng từng ngoại tình nên ông mới có thể miêu tả chính xác như vậy. Hoặc nếu không, ông là một nhà tâm lý học tài ba, ông hiểu sâu sắc về con người.

Việc thứ hai là ở chỗ, ông đi vào mô tả rất sâu những tầng suy tưởng ở bên trong tâm hồn của mỗi con người, nó sâu đến mức ông đặt cả những điều mơ hồ, rối loạn lên trang giấy và truyền nó sang người đọc. Ông khiến chính người đọc phải suy tưởng về bản thân mình, về bản chất cuộc sống.

Về mặt kỹ thuật, như thường lệ, tôi thích âm nhạc mà Murakami đưa vào truyện của mình, âm nhạc sang chảnh và trí tuệ trở thành một thứ đồ trang sức cực kỳ vừa mắt và tôn lên vẻ đẹp của truyện, nó trở thành thứ nhạc nền không thể thiếu cho bộ phim, nó thậm chí lặp đi lặp lại đúng vào những đoạn cao trào khiến cho dù có lười cỡ nào cũng không dừng được việc bật nhạc lên khi đọc truyện. Một điểm nữa, là cách ông gỡ nút thắt, nó có phần mơ hồ hư ảo và khó đoán nhưng lại phù hợp, cần thiết và thực ra là kết cấu rất chặt chẽ giữa các quãng trong cuộc đời của nhân vật chính.

Có lẽ một số lớn người đọc sẽ thích thú với việc để mình phiêu cảm xúc với câu chuyện, thỏa mãn mình bởi các tình tiết li kỳ, những cung bậc và những đỉnh điểm của các sự kiện, và gấp trang sách lại với những dư vị có phần bội thực, khó hiểu, luẩn quẩn và di mờ. Nhưng bản thân tôi lại thích rút ra một điều gì đó. Nó như thế này:

Những gì thuộc về sâu thẳm trong một con người, từ những niềm khát vọng, những đam mê, cho đến những rạn vỡ, thiếu hụt, những đau khổ, mất mát, nó sẽ luôn nằm ở đó, nó không thể mất đi, dù ta có chôn vùi khỏa lấp nó bằng bất cứ cách nào, nó sẽ không thể mất đi cho đến khi được đối diện và thỏa mãn một cách trực diện, không khoan nhượng. Bản chất của việc này không nằm bên ngoài con người đó, mà nó nằm chính trong tiềm thức ở con người đó, mọi việc làm, mọi hành động, theo một cách nào đó, sẽ đều dẫn dụ tinh tế người đó đến việc giải quyết các mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong đó. Nó không có gì khác hơn những cái gọi là ý thức của bạn sẽ quyết định vật chất và cuộc sống của bạn, nếu nó đủ mạnh. Nó không có gì khác hơn thuyết lượng tử về sự tác động của mọi thứ vào nhau, từ những photon năng lượng rất nhỏ - gọi là ý nghĩ của bạn.

Vì nhiều nguyên nhân, vì nhiều duyên nợ và nhân quả, mà rất có thể tất cả những gì ta muốn, có thể ta sẽ không đạt được, như về người yêu "khiến ta tròn đầy và bất nhất" - người yêu mà đúng là người đó phải là dành cho mình, mình trở nên toàn vẹn khi ở bên người đó - có lẽ và tôi tin một người như thế là có tồn tại. Nhưng hôn nhân và sự gắn bó rất có thể không phải là với người đó. Chúng ta phải chấp nhận chuyện đó, hòa hợp với hiện tại và làm cho xong nghĩa vụ và phần tiến hóa mà mình phải thực hiện trong cuộc đời này. Tôi chân thành cảm ơn sâu sắc sự đến và đi của nhân vật Shimamoto-san. Nàng đã giúp người đàn ông tuyệt vời nhưng thiếu hụt của chúng ta - Hajime, tìm thấy phần bị đánh mất trong cuộc đời mình, rồi nàng ra đi đúng lúc, để lại anh sự tuyệt vọng sâu sắc và ám ảnh khôn nguôi. Kế đến, sự cảm thương cùng với trân trọng sâu sắc tôi dành cho Izumi. Người phụ nữ bị chính Hajime làm cho tổn thương đến vô hồn đã xuất hiện đúng lúc, dù chỉ là một ánh nhìn qua ô cửa xe taxi trên phố, sự mất mát, bất hạnh, trống rỗng, xác chết di động và cuộc đời zero của Izumi dường như khiến anh tỉnh ngộ, đưa anh trở về thực tại, sống hiền hòa và yêu thương những điều giản dị, bắt đầu lại từ đầu, bên vợ và con.

Murakami đã chọn và tôi cũng thích cách ấy để giải quyết vấn đề: không có "biện pháp nửa vời" và đi đến tận cùng của hủy diệt và tái sinh.

20 tháng 9, 2014

Về Vô tri


Cuối cùng, sau khoảng 2 tuần vật vã mình mới đọc xong được một quyển sách bé xíu và mỏng dính, giờ nghỉ trưa, giờ đi ngủ, cầm cuốn sách lên được chừng 5 trang là ngủ, thật là bố khỉ.

Mấy cuốn mình đọc gần đây đều thế, nó hầu như không có tính giải trí, không khiến người ta đọc liên tù tì được, nhưng mình tò mò vì tên tuổi của tác giả, tò mò vì nghệ thuật họ đang sử dụng, tò mò cách họ gây bất ngờ cho người đọc, và trên hết, tò mò vì điều mà tác giả muốn nói với độc giả, điều mà tác giả muốn kể, thật sự muốn kể.

Tác phẩm được viết năm 2000 nhưng tinh thần và câu chuyện của nó không mới, được xây dựng trên bối cảnh cuộc trở về của những người lưu vong khi Séc dành lại nền cộng hòa, tự do dân chủ và đa nguyên chính trị lên ngôi khi chế độ cộng sản của Liên Xô sụp đổ ở hàng loạt các nước châu Âu.

Nhân dịp đọc truyện này, lịch sử thế giới được ôn lại thông qua lịch sử của người Séc, năm 1918, với Thế chiến thứ nhất, Cộng hòa Tiệp Khắc  dành độc lập khỏi đề chế quân chủ Áo – Hung; năm 1938, thế chiến thứ hai, với sự xâm lược của phát xít Đức, người Séc đã đánh mất nền độc lập của mình, năm 1948, “cuộc cách mạng cộng sản được nhập khẩu” từ Liên Xô, Đảng cộng sản Tiệp Khắc lên nắm quyền. Bắt đầu từ năm 1968, phong trào Mùa xuân Praha bùng nổ đòi dân chủ. Năm 1989, cuộc Cách mạng Nhung diễn ra đưa  Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ, trở thành Cộng hòa Séc như ngày nay từ năm 1993.
Ngoài lề tý, mới đây, tháng 9/2014, sau 25 năm kể từ ngày CNXH suy sụp ở châu Âu, bức tượng Karl Marx cuối cùng đã bị hạ bệ tại Hungary cùng với chủ thuyết của ông.

Câu chuyện nói về sự “thờ ơ”, “vô tri” giữa người với người, dẫu là cùng quê hương, dẫu là gia đình trước sự tồn tại của nhau. Xa cách 20 năm, có lẽ đó cũng là điều bình thường, chẳng có gắn kết gì đủ chặt chẽ để người ta có thể thật tâm hỏi han nhau ngoài việc giao tiếp bề mặt và đùa bỡn cho có. Nhưng đứng từ phía những người trở về, đó là sự đứt gãy giữa quá khứ và hiện tại, họ chẳng còn gì, chẳng có gì, họ hoàn toàn xa lạ, xa lạ ngay cả với chính con người mình ở những năm tuổi trẻ được tìm thấy trong một cuốn nhật ký còn sót lại. Và tại đây, phải chăng khái niệm quê hương, dòng máu, trở nên mờ nhạt hơn bao giờ hết, chỉ còn nằm lại ở vài hình ảnh thân thương của thành phố, những tiếng nói dân tộc còn mang phong sắc ngày cũ thật hiếm hoi mới được nghe lại. Họ trở về, cuối cùng cũng chỉ để cho một khẳng định chắc chắn hơn, một sự ra đi mãi mãi, bình yên với chốn mà họ đã sống 20 năm nay.

Lịch sử người Séc và cuộc lưu vong - trở về - rồi ra đi của những người lưu vong đã tạo một phông cảnh rất tốt cho sự vô tri giữa người với người được phơi bày. Nhưng kỳ thực, sự vô tri diễn ra ở bất cứ đâu, bất cứ hoàn cảnh nào, lịch sử nào. Sự không thật lòng của con người, sự tha hóa của xã hội, những bản ngã ích kỷ, và cả hèn nhát, mình muốn nhấn mạnh vào sự hèn nhát, vẫn luôn đẩy số phận của nhiều người vào chỗ bế tắc, đau khổ, trống rỗng và không có lối thoát. Cuộc đời dài thật nhưng hóa ra lại mong manh vô cùng, loáng một cái, vẫn có thể là ta sẽ chẳng bao giờ có hạnh phúc, vẫn có thể là tất cả sẽ bị mắc kẹt cho đến lúc chết.
Mình thích truyện này ở cách Kundera đã miêu tả suy nghĩ và tâm trạng của các nhân vật rất chậm rãi, tỉ mỉ, từng chút một, hoàn toàn bình tĩnh, như chính những tâm sự, những suy tưởng hằng ngày mà bất cứ ai cũng có thể có. Những gút mắc của câu chuyện, vì thế, đến với người đọc tự nhiên và khó chịu như chính cuộc sống thực. Nó không thích hợp để giải trí như kiểu người ta xem phim hay đọc tiểu thuyết ba xu, mà thích hợp để người ta sống chậm rãi, nhìn rõ hơn và nhạy cảm hơn vào nội tâm của mình và quan tâm sâu sắc đến những người xung quanh, dù phần lớn thì, những người xung quanh cũng chẳng mấy ai sống quá phức tạp hay nghĩ quá nhiều. Theo mình, có lẽ ngày nay phần lớn người ta hời hợt và tìm vui dễ dàng.

Và giống như Haruki Murakami, mình thích những tác phẩm dẫn chiếu người đọc đến những kiệt tác – tác phẩm văn hóa khác. Ở tác phẩm này, nó dẫn mình đến với trường ca Ulysse của Homère và âm nhạc của Arnold Schonberg.


6 tháng 8, 2014

Về nàng Louki (phần 2 và hết)


“Tớ cảm thấy bất lực trước cuộc sống này, ít nhất về mặt tinh thần - tình cảm. Họ cứ trôi chảy mãi, tớ không tác động gì được hay thay đổi gì được. Và chỉ có chính tớ làm cho mình hurt vì yêu thương mù quáng. Bất giác, tớ muốn đi bộ mãi, qua hết phố này phố kia, khám phá những điểm tận cùng trong đêm tối, giống nàng Louki trong truyện Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối, không có gì có thể làm tớ hurt nữa, chỉ còn lại tớ với chính mình, với cái bất tận và buông bỏ, tớ nghĩ là tớ cảm nhận được cái tâm trạng đó của nàng, rất bứt bí, rất khó chịu, quẫn bách, ràng buộc và không làm chủ được những dòng chảy xung quanh mình, không thể tạo dựng được cái gì rõ rệt, vai trò vốn có từ trước chỉ là những sự nương náu tạm thời và những hi vọng rất mong manh vào mối liên kết giữa mình với những người xung quanh.”

Hôm nay tớ ngồi đọc lại quyển này, tớ nghĩ có lẽ tớ đã, đang và vẫn nắm bắt được tinh thần của truyện, nhưng vẫn cảm giác có cái gì đó rất thiếu, rất trống, có cái gì đó chưa toàn vẹn, có lẽ phải đọc thêm triết học của Guy Debord thì may ra mới hiểu hết được.

Hôm nay nhận ra thêm những tình tiết truyện quan trọng mà lần trước vì cố muốn biết kết cục ra sao, cố muốn biết nhà văn thực ra muốn nói gì, tớ đã bỏ sót.

Nàng đã có quá nhiều cô đơn và rạn vỡ: trước hết là trong mối quan hệ với mẹ, một mối quan hệ yếu đuối, mỏng manh, quá ít chia sẻ và giao thoa. Hai là, hẳn đã có chuyện gì kinh khủng về một tên là Moncellini – khiến cho nàng kinh khiếp và ám ảnh. Ba là, hôn nhân của nàng chẳng có tình yêu, cũng chẳng có tình dục, đại loại chỉ là một cái vỏ bọc để người ta quên đi nàng từng có họ của mẹ, từng có quá khứ 15 tuổi đi lang thang trong đêm.

Và rồi, dù nàng có đến những buổi nói chuyện về khoa học thần bí, đọc về thiên văn học, nàng có trú ẩn ở quán café với những tuổi trẻ đồng cảnh ngộ, dù nàng có tìm được sự đồng cảm và tình yêu mấp mé với Roland (hoặc giả chỉ có Roland yêu nàng), thì nàng vẫn luôn man mác, trống trải, không gì có thể kéo nàng lại với cuộc đời này cả, nàng khao khát những cảm hứng mới, nhưng chẳng có gì trờ đến cho nàng bắt lấy cả, ngoài nơi tận cùng con dốc, ngoài bầu trời xanh và khoảng không, ngoài cảm giác bồng bềnh phi trọng lực. Và nàng chết.

11 tháng 7, 2014

“Dans le café de la jeunesse perdue” by Patrick Modiano

 Chà, nhẽ ra nó không nên được đặt tên như thế, nhẽ ra nó phải được đặt đại loại như là “phố lần qua phố” thì có lẽ đúng hơn. Ngợp những con phố, con dốc, khu nhà, đại lộ, góc đường, nếu ai một lần sống ở Pari và lang thang qua những phố những đường này, nhất là vào chiều tà hay đêm tối, chắc sẽ thích thú vô cùng khi đọc nó. 

Đây là một truyện cực kỳ khó đọc, nó có lẽ đòi hỏi nhiều trải nghiệm, kiểu như những băn khoăn vô định về ý nghĩa cuộc đời này, rồi thì khát vọng tư do trừu tượng, giải thoát hoàn toàn khỏi những ám ảnh và mong muốn tầm thường. Những câu văn cứ nhẹ nhàng, man mác nhưng tựu chung lại hợp thành một câu chuyện có chiều sâu triết lý không dễ gì hấp thụ.

Và cứ cho rằng nó đòi hỏi những suy nghĩ triết lý, và nó cần những trải nghiệm tự vấn nhất định, thì nếu bạn không đáp ứng cả hai điều kiện đó, bạn phải đọc nó ít nhất hai lần, bởi lẽ đó là những dòng suy nghĩ miên man, những hồi tưởng triền miên nối tiếp của những con người rời rạc nhưng có điểm chung ở chỗ cùng để ý sâu sắc đến sự tồn tại của nàng Louki và những dòng suy nghĩ của chính nàng nữa. Người đọc như bị nhúng mình vào cái tâm trạng u u minh minh đó của nàng rồi cũng như muốn thoát ra khỏi tất cả những lầng quầng khắc khoải đó, để được cái cảm giác tự do như thế này “Rồi tôi sẽ sớm tới được rìa vách đá và tôi sẽ gieo mình vào khoảng không. Hạnh phúc sao khi được bồng bềnh trong không trung và rốt cuộc cũng biết được cảm giác phi trọng lực mà tôi vẫn tìm kiếm lâu nay”. (Trang 98). 

Trở lại với việc đọc hai lần, những hồi tưởng lan man trong bối cảnh rất buồn, tối và cũ của Pari khiến người đọc cứ lật dở lật dở mãi, để tìm một cao trào, một nút thắt, để được thỏa mãn khi một nút thắt được mở như hầu hết các thể loại truyện thông thường, và người ta bỏ qua việc đọc chậm, để hiểu những ý muốn rất nhỏ nhoi và mãnh liệt của nàng Louki đáng thương. Tuy thế, người ta sẽ tự mình muốn và phải đọc lại, vì truyện hóa ra lại là một mạng nhện nút thắt từ đầu đến cuối, tấm mạng nhện ấy đến phút cuối được xé toang ra để kết thúc. Và ta phải đọc lại, để hiểu từng nút thắt trong cái mạng, và vì sao nó cần phải được xé theo cách ấy.
Thoáng đọc những trang đầu, về một quán café, cũng như phần lớn những chúng ta, quán café (hay quán nào đó, nơi nào đó) mà chúng ta sẽ xem nó là “một chốn trú ẩn khỏi mọi thứ gì mà” ta “mường tượng là u ám của cuộc đời”, là nơi mà ta “bỏ thật nhiều thời gian” để đến là bởi ta muốn người ta cho” ta “cái lời khuyên ấy, một lần cho tất cả” rằng “đừng lui tới cái chốn đó nữa”, chốn đó có thể là trường Mỏ với chàng thanh niên trẻ trong truyện, là trường Ngân hàng với Ngọc Tròn, là trường ABC đối với XYZ, ai hiểu và cùng hoàn cảnh thì cứ việc thay thế tên mình và cái trường mà tên của nó đã từ rất lâu “mỗi lúc một trở nên kỳ quái hơn”.  

Nhưng biết được mình ghét cái gì, cái gì không phù hợp với mình, hữu hình như kiểu một ngành nghề một trường học mà mình trót sa chân vào bởi xu thế - vòng lặp xã hội, để rồi tìm cách thoát ra nó, bằng một cái khác hữu hình, như việc viết lách, chụp chọt, dịch dọt, vẽ vời, hát hò, may vá, làm sự kiện, … thì vẫn còn rất lạc quan, có cái gì cụ thể để mà đi tới, mà ước mơ, và nỗ lực mà sống. Nhưng nàng Louki thì khác, nàng chẳng có gì ngoài tuổi thơ hiu hắt, những con phố ngút mắt, một vài con người tốt và xấu tình cờ xuất hiện trong cuộc đời nàng, cái quán café cho những tâm hồn lạc lối trú ẩn cũng không giữ được nàng, và cả sự đồng điệu của người bạn tâm hồn cũng không thể giữ được nàng. “Nàng muốn đào thoát, trốn đi mỗi lúc một xa hơn, đoạn tuyệt thật phũ phàng với đời thường, để được hít thở không khí tự do”. (trang 121).

Hiểu một con người nhiều khi cũng giống như hiểu một triết lý khó vậy, nhiều khi chả hiểu được hết, và yêu thương như thế nào mới là phải cách, để khiến cho họ muốn đi về phía trước đón nhận cuộc đời này một cách tích cực, cũng chả biết luôn. Xem ra có vẻ rắc rối quá nhỉ, thôi cầm lên và đọc đi, coi có hiểu được chút gì hay có cảm nhận gì khác so với tớ không? Cơ mà người dịch truyện này (bác Trần Bạch Lan) dùng mấy từ tiếng Việt gì mà tớ không hiểu nó có nghĩa là gì luôn ế: rợ (trang 79), ngẫn, tập ấm, cắt cầu (97).

PS: bỗng nhiên muốn học tiếng Pháp.

20 tháng 6, 2014

Chiến binh cầu vồng - Sách rất hợp dành cho trẻ con...

Tôi thích dùng từ “trẻ con” dành cho các bé dưới năm tuổi và từ lớp 5 trở xuống, “trẻ em” cho các bé học cấp 2, còn các em học cấp 3 thì chắc là “trẻ trâu” vì lúc này chúng đã khỏe như trâu .Đáng ra tựa đề đầy đủ sẽ là, “rất hợp để đọc khi còn trẻ em, và rồi đọc tiếp khi đã thành người lớn”, nhưng dài quá nên đành để như vậy.

Truyện viết với giọng văn trong sáng, vẽ ra một thế giới về việc đi học chân thực, dễ thương và về một nền giáo dục “ca tụng nhân bản, thanh cao”, là “ánh sáng văn minh”. Truyện sẽ mở ra cho các em nhỏ lòng yêu thích học hành và nhận ra đam mê của mình, bởi khéo léo lồng ghép hết sức sáng tạo khi nói đến các môn học toán, vật lý, lịch sử, văn chương… và cả tình yêu đối với nghệ thuật, âm nhạc. Truyện còn truyền cảm hứng cho các em biết sống có lý tưởng, ước mơ, nghị lực, có tinh thần tự học, tự phát triển bản thân, biết đấu tranh cho những điều tốt đẹp và lẽ phải. Và trên hết, dạy cho các em biết yêu thương, từ gia đình, bố mẹ cho đến thầy cô, bạn bè.


                     Đồng cỏ Edensor, nước Anh, một trong những cái neo tâm hồn của nhân vật “tôi”, 
                                        (nguồn https://www.flickr.com/photos/52386003@N04/ )
 
Vậy đọc gì khi chúng ta đã lớn?

Tôi miên man đọc cho đến cuối quyển sách mà không ngừng nghỉ nữa khi còn lại khoảng 50 trang cuối, khi tác giả nói về “12 năm sau”, tôi đợi chờ một kết cục cổ tích, các em đều có thể làm được nghề mà các em hằng mơ ước, thậm chí gặp lại mối tình học trò thất lạc. Nhưng nhận ra bài học ở trong cổ tích thì dễ, nhận ra bài học trong thực tại đau khổ mới khó. Một trong số đó như thế này: “một cuộc sống làm lụng vất vả cũng giống như lấy trái từ trong một cái giỏ mà hai mắt đều bị bịt. Dù cuối cùng ta lấy được trái gì thì ít nhất ta cũng có trái. Trong khi đó, cuộc sống không phải làm lụng vất vả thì cũng giống như tìm một con mèo đen trong căn phòng tối om với hai mắt nhắm tịt, mà con mèo thì không có ở đấy.”

Và tình cờ, truyện khiến tôi liên tưởng đến hoàn cảnh hiện nay của ta, rằng một sự sụp đổ thình lình thê thảm thì còn tốt cho một khởi đầu mới hơn là dở dở ương ương, èo uột và ấm ớ, dối trá và hèn mạt.

---------------------------

Thông tin về sách: tác giả Andrea Hirata, Indonesia, Dạ Thảo dịch, NXB Hội Nhà văn + Nhã Nam

9 tháng 5, 2014

Về truyện "Bắt trẻ đồng xanh"



Cách đây không lâu, tôi đang đọc Bắt trẻ đồng xanh, lúc ấy tôi thấy bìa xấu quá, tự nhiên chỉ một màu xanh lè và không có gì khác, chẳng tạo cảm giác gì cả, thì em Khuê, sau khi nghe tôi nói vậy, bảo là “ừ, thì đúng là cuốn sách đó cũng chẳng tạo cảm giác gì cả” hoặc đại loại vậy, tôi không chắc là mình nhớ rõ. 

Có lẽ nó sẽ chẳng tạo cảm giác gì thật, thậm chí là bạn không thể đọc được nó, sau khi cố đọc xem một vài trang đầu vì biết là nó khá nổi tiếng, nếu như bạn chưa từng trải qua cảm giác như Holden Caulfield. Và nếu bạn chưa từng trải qua cảm giác như Holden Caulfield thì bạn cũng không cần đọc nó làm gì, nếu bạn đang vui, không cần đọc nó làm gì, nếu bạn thấy hài lòng với phần lớn những gì xung quanh bạn, không cần đọc nó làm gì.

Mẫu cảm xúc của Holden Caulfield là một mẫu cảm xúc rất điển hình, của tất cả những ai, trong cơn trưởng thành của mình, vừa thức tỉnh nhận ra thế giới xung quanh mình thực chất như thế nào, nhưng chưa đủ sức chấp nhận nó, chưa đủ sức nhìn ra cho mình một lối thoát, ngoại trừ ý nghĩ là sẽ đến một vùng đất thật xa, thật hoang sơ bình dị, sống với thiên nhiên và những quyển sách. Có một câu rất hay mà thầy giáo Antolini nói với Caulfiled thế này, đủ sức nói lên cái mà Caulfield và những người trẻ đau khổ chúng ta đang mắc phải và cái mà chúng ta phải đi đến: “Dấu hiệu của một người chưa trưởng thành là, họ muốn chết một cách cao thượng vì một sự nghiệp, trong khi dấu hiệu của người trưởng thành là họ muốn sống một cách khiêm nhường vì một sự nghiệp.”

Tôi nghĩ là dịch giả đã vừa không thành công nhưng cũng lại rất thành công. Không thành công là vì nó dễ làm người đọc phải bỏ dở câu chuyện ở những trang đầu, vì thứ ngôn ngữ bực bội dùng dằng khó chịu, lặp đi lặp lại mà không hiểu để làm gì. Nhưng Phùng Khánh cũng rất thành công, vì đó chính là cảm xúc của Caulfield, vô cùng chán ngán và nhìn đâu cũng thấy sự “bộ tịch” giả tạo, kệch cỡm, xun xoe ngu ngốc, đó là cảm xúc chán ghét tất cả mọi thứ, cảm thấy mình không thể sống nổi trong thực tại này nữa.

Nhưng phải nói, Caulfield là mẫu người tốt và tinh tế, có vài lúc tôi đã nghĩ, tôi yêu một người giống Caulfield. Định kể chính xác một vài chi tiết mà tôi rất thích ở Caulfield, nhưng mà thấy mệt ghê ta, không lẽ khi ta đọc ta phải bôi đen bôi đỏ lại, hay là khi ta viết review một cuốn sách, ta phải đọc lại nó lần thứ hai để trích dẫn nhỉ. Đại loại ảnh là một người rất nhạy cảm, bạn sẽ thấy thương những người mà ảnh thương và thực sự ghét những người mà ảnh ghét, nếu ảnh viết một bài luận mô tả một đồ vật thì ảnh sẽ tả đôi găng tay có ghi đầy thơ trên các ngón của người em đã mất, ảnh ghét trường học và thi rớt tất cả các môn ngoại trừ môn văn, vì ảnh viết luận rất khá, ảnh nhạy cảm đến nỗi, sự băn khoăn về những con vịt sẽ đi đâu khi hồ băng giá cứ ám ảnh miết, ảnh sẽ không làm tình, dù phụ nữ có sẵn sàng ngay trước mặt để làm chuyện đó, v.v… Và hãy thử đọc đoạn mà ảnh nói về việc tại sao ảnh lại rớt môn Diễn thuyết từ trang 279 đến trang 282 thì bạn sẽ hiểu Caulfield đáng yêu và nhân ái đến mức nào.

Và nói nhỏ nhé, thật tệ nếu bạn cảm thấy người bạn yêu trong truyện giống với người bạn yêu ở ngoài đời. Ngoại trừ ảnh quá tốt và tinh tế thì ảnh bất cần đời, hút thuốc rất nhiều, ăn rất ít, thích đọc sách, ghét đồ rẻ tiền, hào phóng cho từ thiện và ảnh sẽ nói đùa vì ảnh biết chắc có nói thật thì tên ngốc cũng không hiểu.
Mặc dù truyện là một chuỗi ký ức tồi tệ của Caulfield từ lúc ở trong trường Pencey, đến lúc bị đuổi học, rồi đi vào trạng thái tuyệt vọng thê thảm và muốn bỏ đi miền Tây xa xôi, nhưng cũng có những đoạn rất thơ, về tình cảm và sự gắn bó của Caulfield với em gái Phoebe, về những ước mơ mộc mạc của ảnh. Anh mua cho cô bé một cái đĩa nhạc mà chắc chắn em sẽ rất thích, trong cơn say xỉn, anh làm rơi vỡ nó ở công viên, nhưng ảnh không muốn vứt những mảnh vỡ ấy đi chút nào, thì cho vào túi, lúc trở về nhà nói với em Phoebe chuyện ấy, thì em khẩn khoản nói, đưa nó đây cho em và cất nó đi; cảnh Phoebe sau khi nhận được mẩu giấy nhắn là Caulfield sẽ đi miền tây và muốn gặp em lần cuối để tạm biệt, đã trở về nhà, xách lê cái vali to quá khổ so với em, rồi đến điểm hẹn xin Caulfield cho nó đi cùng, rồi nó giận ảnh vì không cho nó đi cùng, rồi hết giận ra sao, Caulfield nhìn em chơi ngựa gỗ rồi sau đó không đi miền Tây nữa mà trở về nhà.

Nhìn chung thì Bắt trẻ đồng xanh là một truyện thành công điển hình, vì nó nói lên đau khổ điển hình của con người ở một thời đoạn điển hình trong cuộc đời, nó thông cảm và hướng đến những tính cách và tình cảm tốt đẹp, nó đưa đến một kết thúc nhân văn, nhẹ nhàng, về việc người ta phải gạt bỏ và vượt qua những thứ giả tạo đáng khinh bỉ để tập trung vào việc hiểu tầm vóc của mình, tìm cho mình cái mình cần, và tất nhiên, trên con đường đó, tình thương là sức mạnh, là níu kéo, là chỗ dựa.

Ảnh: nguồn nguoidoctre.org